Đây là giải pháp nhằm cải thiện màu sắc của cá chép Koi thương phẩm, đồng thời tăng khả năng miễn dịch, hạn chế dịch bệnh trên cá trong quá trình nuôi.
Thực trạng sản xuất
Cá chép Koi (Cyprinus carpio) là loài cá cảnh có giá trị cao cho cả thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu. Nét độc đáo và yếu tố chính tạo nên giá trị của cá chép Koi chính là màu sắc (sắc tố) và hình dạng của cá. Đối với hầu hết các loài cá, carotenoid được xem như là những sắc tố quan trọng nhất trong việc cải thiện màu sắc của cá vì chúng không tự tổng hợp được mà phải lấy từ khẩu phần thức ăn bên ngoài đưa vào. Do đó, một trong những giải pháp để làm tăng màu sắc của cá là bổ sung carotenoid vào thức ăn.
Trong khi đó, Probiotics giúp tăng số lượng vi sinh vật có lợi trong hệ tiêu hóa của các loại thủy sản, cải thiện khả năng kháng bệnh của con giống, giúp con giống tiêu hóa thức ăn tốt hơn. Hơn thế, Probiotics còn có thể giúp giảm thiểu việc sử dụng các thuốc kháng sinh và hóa chất để ngăn ngừa dịch bệnh, hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm môi trường. Vì vậy, Probiotics giữ vai trò rất quan trọng trong những hệ thống nuôi trồng thủy sản và trong trại sản xuất giống, bởi hoạt động của vi sinh có liên quan trực tiếp và chặt chẽ lên sự kiểm soát chất lượng nước, cân bằng đường ruột và bệnh của thủy sản.
Những cá thể cá chép Koi sau khi được tuyển chọn thì tiến hành bố trí cho ăn thức ăn lên màu đỏ và Probiotics nhằm tăng khả năng miễn dịch, hạn chế dịch bệnh trên cá chép Koi, đồng thời giúp cải thiện màu sắc của cá, nâng cao giá trị của cá chép Koi thương phẩm.
Quy trình bổ sung thức ăn lên màu và Probiotics vào thức ăn trong ương giống cá chép Koi (Cyprius Carpio) kiểu hình Taisho Shanshoku đã được ứng dụng thực tế tại Hợp tác xã Nông nghiệp Hữu Cơ Công nghệ cao Phước Hạnh (nằm trong Chương trình “Hỗ trợ chuyển giao mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp” do Sở KH&CN TP.HCM triển khai).
Hiện nay, Sàn Giao dịch Công nghệ Techport.vn (thuộc Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ TP.HCM – Sở KH&CN TP.HCM) đang tiếp tục đồng hành cùng nhà cung ứng trong hoạt động hỗ trợ kết nối, tư vấn chuyển giao công nghệ, thiết bị cho doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu.
Quy trình sản xuất
Bước 1: Chuẩn bị ao ương và xử lý nguồn nước nuôi
Diện tích ao ương: 4.000m2. Độ sâu: 1,5m. Bờ ao lót bạt. Ao được cải tạo, tu sửa bờ cống cấp thoát nước. Khử trùng đáy ao bằng vôi bột rắc vôi khắp đáy ao với liều lượng 15kg/100m2. Sau đó, phơi đáy đến khi đáy ao khô, nứt chân chim.
Nước cấp vào ao phải được lọc qua túi lọc có mắt lưới 100 micron gắn vào cửa cống hoặc đầu ra của máy bơm để tránh cá tạp, cá dữ xâm nhập vào ao. Chất lượng nước đạt yêu cầu: pH đạt 7,5, DO: >4 (mg/l), NH3/NH4+ < 1 (mg/l), màu nước lá chuối non.
Bước 2: Thả giống cá chép Koi
Cá bột được ương nuôi trong ao đất lót bạt. Cá sau khi nở 7 ngày đã sử dụng thức bên ngoài thì tiến hành thả cá ra ao đất để ương nuôi. Nước trong ao ương đã có màu tốt và các thông số môi trường đều nằm trong khoảng thích hợp thì tiến hành thả cá bột. Cá bột được thả lúc trời mát và thả phía trên gió để cá dễ dàng bơi tỏa ra khắp ao ương. Mật độ ương: 104 con/m2.
Bước 3: Chăm sóc cá con (cho ăn)
Thức ăn của cá: 3 ngày đầu không cho cá ăn do cá mới nở tự dưỡng bằng noãn hoàng. Sau đó, cá bắt đầu ăn mồi bên ngoài. Thức ăn cho cá ban đầu là lòng đỏ trứng luộc chín hòa vào nước, cho cá ăn trong thời gian ba ngày tiếp theo. Cá sau khi nở 7 ngày thì tiến hành thả cá ra ao đất để ương nuôi.
Những ngày tiếp theo cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp có hàm lương đạm 42% và được bổ sung probitics với thành phần chứa trong 1kg chế phẩm là Lactobacillus acidophilis (4,4 x 1011 CFU), Saccharomyces cerevisiae (3,5 x 1010 CFU), Bacillus subtilis (Bacillus subtilis). Cá được cho ăn 2 lần mỗi ngày vào lúc 7 giờ và 17 giờ. Lượng thức ăn được kiểm tra và điều chỉnh theo nhu cầu.
Bước 4: Tuyển chọn cá
Khi cá ương nuôi trong ao đất được 60 ngày tuổi, cá bắt đầu phát triển kỳ, vây theo kiểu dáng, màu sắc đặc trưng thì tiến hành tuyển chọn cá có kiểu hình đẹp.
Trước khi tiến hành tuyển chọn, cho cá nhịn ăn một ngày để giảm tỷ lệ hao hụt trong quá trình lựa chọn cá. Giữ lại những cá thể đạt tiêu chuẩn như: không có dị tật, hình dáng cá cân đối, trên cơ thể có màu trắng thì trắng như tuyết, màu đỏ phải chiếm khoảng 50 - 70% trên thân cá. Hoa văn có sự phân chia rõ ràng giữa màu trắng và màu đỏ. Các điểm màu đen xen lẫn những mảng màu trắng - đỏ, các màu đen này chỉ phân bố trên cơ thể, không phân bố trên vùng đầu.
Bước 5: Nuôi cá thương phẩm
Sau khi cá được tuyển chọn thì tiến hành nuôi thương phẩm trong ao đất. Sử dụng thức ăn công nghiệp được bổ sung Probiotics.
Khi cá đạt kích thước 13-15 cm thì đưa cá lên bể xi măng nuôi trong hệ thống lọc tuần hoàn và tiến hành bổ sung thức ăn lên màu cho cá ăn. Thời gian bổ sung liên tục 30 ngày trước khi bán để đảm bảo màu sắc cá lên đỏ đẹp.
Bước 6: Thu hoạch
Khi cá đạt kích thước 15-20cm, màu sắc, hoa văn đậm nét thì tiến hành thu hoạch cá cung cấp cho thị trường.
Các điều kiện triển khai
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao cử cán bộ kỹ thuật trực tiếp xuống chuyển giao quy trình cho bên nhận chuyển giao. Bao gồm các đầu việc:
• Tư vấn, cải tạo ao ương cá chép Koi.
• Tư vấn, cung cấp nguồn thức ăn (chế phẩm Probiotics, thức ăn viên 42% protein, thức ăn lên màu đỏ cho cá chép Koi).
• Chuyển giao các nội dung: kỹ thuật gây màu nước ao nuôi, xây dựng công thức thức ăn cho cá con, kỹ thuật cho cá ăn, kỹ thuật tuyển chọn cá con, kỹ thuật chăm sóc, quản lý môi trường ao ương cá.
Các bên cùng bố trí thí nghiệm, theo dõi thu thập các số liệu thí nghiệm, điều chỉnh thông số kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Ưu điểm của công nghệ
Kết quả triển khai thực tế cho thấy thức ăn lên màu có tác dụng tích cực trong việc gia tăng màu sắc đỏ ở cá chép Koi: sau 2 tuần bổ sung thức ăn lên màu thì màu sắc của cá bắt đầu biến đổi so với mức ban đầu. Để đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và giảm chi phí sản xuất do bổ sung sắc tố vào thức ăn cho cá thì thời điểm bổ sung là trước 30 ngày khi cá chuẩn bị thu hoạch bán ra thị trường.
Theo số liệu thống kê, tỷ lệ cá sống đến 60 ngày tuổi đạt 78% (324.885 con), tỷ lệ cá con có kiểu hình Taisho Shanshoku là 52,2% (169.589 con), tỷ lệ cá con có kiểu hình Taisho Shanshoku đạt chuẩn là 6,1% (10.334 con).
Thông tin liên hệ chuyên gia:
1. ThS. Nguyễn Thị Loan
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao
Địa chỉ: Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 02838862726
Email: E-mail: nghiencuu.ahtp@tphcm.gov.vn
2. Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ - Phòng Giao dịch Công nghệ
Địa chỉ: 79 Trương Định, P. Bến Thành, Q.1, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3822 1635 - Fax: (028) 3829 1957
Email: pgdcn@cesti.gov.vn
Hoàng Kim