Quy trình sản xuất nghêu giống được cải tiến giúp cải thiện tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu từ khi ấu trùng xuống đáy đến khi đạt kích cỡ nghêu giống cấp 1, từ đó giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình sản xuất giống nghêu.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ
Nghêu (Meretrix) được xem là đối tượng chủ lực cho nuôi thủy sản, bởi nó có giá trị kinh tế, sản lượng khai thác hàng năm cao, phục vụ cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Trong tháng 8/2021, xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ vẫn tăng mạnh (36,2%), đạt trên 13,2 triệu USD. Luỹ kế 8 tháng đầu năm xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ đạt 86,8 triệu USD, tăng gần 40% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, nghêu là sản phẩm chủ lực, chiếm 72% giá trị, đạt 62,6 triệu USD trong 8 tháng; riêng trong tháng 8/2021 tăng mạnh 75% đạt 11,5 triệu USD. Ở Việt Nam, 10 địa phương đứng đầu về xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ (tháng 8/2021) bao gồm Thanh Hoá, Bến Tre, Nam Định, Bình Thuận, Thái Bình, Hải Phòng, Sóc Trăng, Kiên Giang, Quảng Ninh, Tiền Giang, chiếm 97% kim ngạch. Trong đó, 3 doanh nghiệp lớn xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ với mặt hàng chính là nghêu.
Nghề nuôi nghêu phát triển mạnh trong những năm gần đây, nghêu đã trở thành đối tượng nuôi kinh tế của ngư dân vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Khảo sát hiện trạng nghề sản xuất nghêu giống tại Cần Giờ (TP.HCM) và Bến Tre cho thấy, tại Cần Giờ do phát triển dự án Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ mở rộng (với quy mô 2.870 ha) tại xã Long Hòa và thị trấn Cần Thạnh, đã làm cho diện tích các bãi nuôi nghêu bị giảm dần. Tuy nhiên nghề sản xuất giống nghêu lại ngày càng phát triển, trong 9 tháng đầu năm 2019, Cần Giờ đã xuất bán 22,3 tỷ con nghêu (cỡ 20 triệu con/kg) so với cùng kỳ đạt 217,56% về sản lượng nghêu (Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn TP.HCM, 2019). Nghề sản xuất nghêu giống ở Cần Giờ chủ yếu được tiến hành theo quy mô nhỏ lẻ, các hộ cơ sở sản xuất cá nhân, tập trung tại xã Lý Nhơn và Long Hòa. Trong khi đó, tại tỉnh Bến Tre sản xuất nghêu giống và nuôi nghêu thương phẩm được xây dựng và hình thành dưới dạng các hợp tác xã (HTX), tập trung chủ yếu ở 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, đây là các huyện ven biển có điều kiện phù hợp để nuôi nghêu thương phẩm đồng thời cũng là nơi có các bãi nghêu tự nhiên cung cấp nghêu bố mẹ và nghêu giống mùa nghịch. Hiện nay, nghêu giống sản xuất từ các tỉnh ĐBSCL và Cần Giờ chủ yếu cung cấp cho các HTX tại địa phương các tỉnh lân cận và các tỉnh phía Bắc như Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa,...
Tuy nhiên, tình hình sản xuất nghêu giống còn gặp nhiều khó khăn. Nghêu bố mẹ ở các trại giống từ Cần Giờ và Bến Tre có chất lượng và giá không ổn định, nguồn gốc vẫn phụ thuộc vào nghêu tự nhiên trong bãi nghêu tại Bến Tre, không chủ động được nguồn nghêu bố mẹ để tiến hành sản xuất nghêu giống. Tỷ lệ sống của ấu trùng xuống đáy ở cả Cần Giờ và Bến Tre vẫn thấp. Theo kết quả khảo sát, hầu hết các cơ sở sản xuất giống tại Cần Giờ đều sử dụng thức ăn trong ương nuôi ấu trùng nghêu là thức ăn tôm cà mịn kết hợp tảo khô. Tại Bến Tre, nguồn thức ăn cho nghêu giống là tảo tự nhiên trong ao, chưa được kiểm chứng thành phần chủng loại cũng như hàm lượng dinh dưỡng của tảo có đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng nghêu hay không, điều này có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của nghêu giống.
Ngoài ra, tại Cần Giờ, quy trình sản xuất giống chưa ổn định, diện tích nuôi nghêu thương phẩm giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch bệnh và dự án du lịch biển. Để nghề nuôi nghêu đạt hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân trong vùng, cần nghiên cứu ứng dụng quy trình sản xuất giống nghêu phù hợp với điều kiện tại Cần Giờ.
Quy trình và phương pháp thực hiện
Quy trình sản xuất giống nghêu (Meretrix lyrata, sowerby 1851) trong điều kiện Cần Giờ
1. Hạ tầng và thiết bị trại sản xuất giống
* Hạ tầng trại sản xuất giống:
- Cơ sở hạ tầng trại sản xuất nghêu giống gồm các hạng mục chính: ao lắng, ao chứa và xử lý nước thải; khu lưu giữ, sản xuất tảo thuần đơn bào; ao sản xuất tảo sinh khối tự nhiên; ao nuôi vỗ nghêu bố mẹ, ương nuôi ấu trùng.
- Ao chứa/ao lắng: có độ sâu 1,5m, diện tích 25% so với tổng diện tích trại sản xuất nghêu giống, bố trí gần nguồn cấp nước; dùng để lắng và chứa nước biển tối thiểu từ 5 - 7 ngày trước khi cấp vào hệ thống trại sản xuất.
- Ao xử lý nước thải: độ sâu 1,5 - 2,0m, diện tích 15% so với tổng diện tích trại sản xuất, được bố trí 5 ngăn nối tiếp, dùng để xử lý nước thải.
- Khu lưu giữ, sản xuất tảo thuần đơn bào: diện tích chiếm 2,0% tổng diện tích trại sản xuất giống. Tảo được lưu giữ và sản xuất sinh khối trong các bể nhựa tròn có thể tích 500 lít hoặc bình nhựa 20 lít.
- Ao sản xuất tảo sinh khối tự nhiên: diện tích từ 100 - 200m2, độ sâu 0,8 - 1,0m. Ao được bố trí 4 hàng đá khí, khoảng cách giữa mỗi đá khí 0,4 - 0,6m.
- Bể kích thích sinh sản nghêu: thể tích bể 1 – 5m3, độ sâu 1,0 - 1,2m, bố trí 4 đá khí đều nhau, sục khí.
- Bể nuôi vỗ bố mẹ: là bể composite có thể tích 5m3, độ sâu 1,2m, đáy được phủ lớp cát mịn (cỡ 0,04 - 0,06mm) dày 10 - 20cm. Bể được bố trí sục khí liên tục. Bể có mái che bán phần màu đen để giảm cường độ chiếu sáng trực tiếp khi cần thiết.
- Bể ương nuôi ấu trùng D-veliger và giống cấp 1: bể composite có thể tích 5m3, độ sâu 1,2m, đáy được phủ lớp cát mịn (cỡ 0,04 - 0,06mm) dày 1 - 2cm để ương giống. Bể được bố trí sục khí liên tục, có mái che bán phần màu đen để giảm cường độ chiếu sáng trực tiếp.
* Thiết bị, máy móc:
- Thiết bị, máy móc dùng trong sản xuất nghêu giống gồm: máy bơm nước, máy nén khí, bể lọc nước, thiết bị lọc nước, túi lọc nước, máy phát điện và vợt lọc ấu trùng.
- Máy bơm nước công suất 120m3/giờ: dùng bơm nước biển trực tiếp vào ao chứa, lắng.
- Máy bơm nước công suất 40m3/giờ: dùng bơm nước từ ao lắng lên bể lọc cát và các ao sản xuất.
- Máy nén khí công suất 3 - 5kw: dùng để cung cấp khí, tăng lượng ô xy hòa tan trong các ao.
- Thiết bị lọc nước: cỡ lọc 1, 2µm dùng để lọc nước lưu giữ tảo thuần và cỡ 5, 10µm dùng để lọc nước ương ấu trùng D-veliger.
- Túi lọc nước: cỡ lọc 5, 10, 20µm dùng để lọc nước ương ấu trùng D-veliger và giai đoạn đầu ấu trùng bò lê.
- Máy phát điện: công suất 12kw, dùng phát điện dự phòng.
- Vợt lọc ấu trùng: cỡ 45, 60, 80, 100, 150, 200, 500µm, dùng lọc, phân cỡ ấu trùng giai đoạn D-veliger, hậu ấu trùng bò lê.
2. Quy trình sản xuất giống nghêu
2.1. Sơ đồ quy trình
2.2. Diễn giải quy trình
* Chuẩn bị nước cho bể sinh sản và bể ương:
- Nước sử dụng cho ao ương và sinh sản được lấy từ kênh cấp, được xử lý bằng Chlorine nồng độ 30mg/L và sục khí liên tục trong thời gian 24 - 48 giờ. Sau đó, nước để lắng trong thời gian 24 giờ và được lọc qua bông gòn đưa vào bể chứa. Nước được kiểm tra hàm lượng Chlorine còn lại bằng thuốc thử Octolidin và trung hoà bằng Thiosulfate natri (Na2S2O3) nếu còn Chlorine trước khi sử dụng.
- Bể nuôi vỗ: bể 5 – 10m3, nền đáy bố trí trong bể hoặc ao có thể dày từ 10 - 20cm, mực nước từ 0,6 – 1m, độ mặn của bể nuôi vỗ duy trì từ 15 – 26‰, nhiệt độ dao động từ 25 - 32ºC.
- Bể sinh sản: nghêu bố mẹ được cho sinh sản trong bể có độ mặn từ 25 - 27‰, sục khí liên tục, mỗi dây sục khí cách nhau 0,6m, mực nước dao động từ 0,6 – 1m.
- Bể ương nuôi: bể composite có diện tích từ 1 – 5m3, bể được vệ sinh bằng Chlorine 200ppm 1 ngày, rửa sạch và cấp nước lọc qua túi lọc kích thước 100µm, độ mặn duy trì từ 15 – 25‰, nhiệt độ 25 - 32°C, sục khí liên tục trong quá trình ương.
* Nuôi vỗ nghêu bố mẹ:
- Chọn nghêu bố mẹ: nghêu được chọn làm bố mẹ phải ít nhất từ 18 tháng tuổi, có khối lượng từ 20g trở lên, chiều dài vỏ ít nhất khoảng 30mm, nghêu có gờ tăng trưởng thưa, vỏ không bị dập, vỡ.
- Thời gian nuôi vỗ từ tháng 2 đến tháng 6 hàng năm.
- Thức ăn sử dụng là hỗn hợp sinh khối tảo Nannochloropsis oculata, Chaetoceros calcitrans, cho ăn 2 lần/ngày vào sáng 8 giờ và chiều 16 giờ. Mật độ tảo cho ăn khoảng 2 x 105tb/ml. Thay nước từ 50 – 70% lượng nước hàng ngày.
* Kích thích sinh sản:
- Kiểm tra tuyến sinh dục nếu phát triển căng, màu trắng sữa hoặc vàng nhạt, cắt màng bao tuyến sinh dục thấy có dịch sệt sệt màu trắng sữa hoặc vàng nhạt (tinh hoặc trứng) chảy ra. Chuyển nghêu bố mẹ thành thục sang bể kích thích sinh sản. Nếu tuyến sinh dục chưa đủ độ căng, có màu vàng nhạt hoặc trắng sữa thì tiếp tục nuôi vỗ nghêu bố mẹ.
- Phương pháp kích thích sinh sản: sốc nhiệt dưới ánh mặt trời. Nghêu bố mẹ được rửa sạch bằng nước ngọt, để ráo nước qua đêm hoặc bóng râm 3 - 5 giờ. Sau đó nghêu được trải ra bề mặt bê tông sốc nhiệt dưới ánh nắng mặt trời trong thời gian 30 - 60 phút, chạm vào thấy bề mặt vỏ nghêu ấm (không để quá nóng) sau đó xếp nghêu vào rổ nhựa cho đẻ từ 1 – 2kg nghêu bố mẹ/m2, đặt vào ao sinh sản. Nên lấy một ít nghêu bố mẹ cho vào thau nước cùng điều kiện với ao cho sinh sản để theo dõi quá trình sinh sản.
Phơi nắng kích thích sinh sản; thau nước cùng điều kiện ao để theo dõi nghêu bố mẹ sinh sản; bố trí vào ao sinh sản
- Thời gian sinh sản của nghêu thường kéo dài khoảng 30 phút, vớt nghêu bố mẹ ra khỏi bể sau khi quá trình sinh sản kết thúc. Theo dõi và vớt các sản phẩm dư thừa trong quá trình sinh sản trên mặt nước ra khỏi bể để tránh làm nước bị ô nhiễm. Trứng thụ tinh sẽ phát triển thành ấu trùng chữ D sau 24 giờ, giai đoạn này ấu trùng bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài.
* Ương nuôi ấu trùng nghêu:
- Thời gian ương nuôi từ ấu trùng thành nghêu giống thường kéo dài từ 35 – 75 ngày tùy thuộc vào kích cỡ con giống cần thu hoạch.
- Thức ăn: thức ăn sử dụng cho ương ấu trùng nghêu là sinh khối hỗn hợp tảo Nannochloropsis oculata, Chaetoceros calcitrans, mật độ tảo khoảng 2x105 tb/ml.
- Chăm sóc nghêu giống:
+ Kiểm tra tuyến tiêu hóa của ấu trùng nhằm xác địnhlượng thức ăn cần cho ấu trùng để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp ở những ngày tiếp theo. Khi tảo chiếm đầy tuyến tiêu hóa của ấu trùng, nước ao vẫn còn màu đục thì giảm một nửa lượng thức ăn và tăng gấp đôi lượng thức ăn khi thấy tảo trong tuyến tiêu hóa nghêu không đủ.
+ Sau 7 – 10 ngày từ khi sinh sản, ấu trùng bắt đầu xuống đáy, bố trí nền cát dày 1,5 – 2cm, tạo môi trường cho ấu trùng sống vùi. Sau khi ấu trùng nghêu xuống đáy trên 70% thì trong 3 ngày đầu khi nghêu xuống đáy tiến hành thay nước hàng ngày từ 20 - 30% lượng nước của ao và thay 50% - 70% từ ngày thứ 4 trở đi.
+ Ương ấu trùng đáy thành nghêu giống cấp 1: nghêu được ương nuôi với mật độ 420.000 con/bể, thời gian ương 35 - 40 ngày. Thay nước theo tỷ lệ 50 – 70% mỗi ngày, sục khí liên tục trong quá trình ương.
+ Ương nghêu giống cấp 1 lên giống cấp 2: mật độ ương nuôi 350.000 con/bể, thời gian nương nuôi từ 1,5 – 2 tháng. Thay nước theo tỷ lệ 50 – 70% mỗi ngày, sục khí liên tục trong quá trình ương, định kỳ 4 – 6 ngày phơi đáy, vệ sinh cát 1 lần.
*Thu hoạch nghêu giống:
- Kích cỡ thu hoạch nghêu giống tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng. Nghêu giống thường được thu vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, khi nhiệt độ trong ngày vẫn còn thấp để hạn chế ảnh hưởng của nhiệt độ đến sức khỏe của nghêu giống.
- Trước khi thu hoạch, nước trong ao được làm cạn bằng cách xả tràn nước qua ống xả (ống lù) từ phía trên bề mặt ao một cách từ từ. Độ cao của ống lù được giảm dần cho đến khi nước trong ao được rút hết ra ngoài,dùng vòi nước bơm nhẹ nhàng dồn cát đáy và nghêu giống về phía ống lù, nơi có phần đáy ao trũng nhất. Thu toàn bộ cát và nghêu ở dưới đáy ao cho vào bao tải nhỏ (cỡ ≤ 1,0mm) hoặc túi lưới (cỡ > 1,0mm).
- Vận chuyển con giống:
+ Bước 1: đóng gói con giống vào thùng xốp cùng với đá lạnh được bọc trong túi nylon để duy trì được nhiệt độ trong thùng khoảng 23 - 25oC.
+ Bước 2: vận chuyển cả thùng xốp nghêu giống trong điều kiện bình thường, nếu vùng nuôi ở gần, thời gian vận chuyển < 5 giờ. Chuyển bằng xe ôtô có thùng bảo ôn ở nhiệt độ 22 - 24oC nếu vùng nuôi ở xa, thời gian kéo dài từ 24 - 48 giờ.
Ưu điểm của công nghệ, hiệu quả kinh tế
Quy trình sản xuất nghêu giống cải tiến tại Cần Giờ đã tăng được tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu từ khi ấu trùng xuống đáy đến khi đạt kích cỡ nghêu giống cấp 1 (từ 7 – 8,5% lên 10,17%), từ đó giúp tăng hiệu quả kinh tế của mô hình (từ 19% lên 30%). Trong quy trình này, phương pháp kích thích sinh sản bằng ánh sáng mặt trời từ 30 - 60 phút là phương pháp đơn giản và cho hiệu quả sinh sản cao nhất, tỷ lệ tham gia sinh sản là 74,24%, sức sinh sản tuyệt đối trung bình đạt 3.813.042 trứng/con, tỷ lệ thụ tinh đạt 75,28%, tỷ lệ nở đạt 85,52%. Thức ăn trong thời gian ương nuôi nghêu giống là hỗn hợp tảo Nannochloropsis oculata và Chaetoceros calcitrans cho tỷ lệ sống ở các giai đoạn ương cao nhất. Cụ thể, giai đoạn từ ấu trùng chữ D sang giai đoạn ấu trùng sống đáy kéo dài từ 7 – 10 ngày, tỷ lệ sống đạt 51,28%. Ương nuôi trong ấu trùng xuống đáy thành giống cấp 1 trong 30 ngày, tỷ lệ sống đạt 10,17%. Ương nuôi nghêu giống cấp 1 lên nghêu giống cấp 2 trong 60 ngày, tỷ lệ sống đạt 80,94%.
Trong khi đó, kết quả khảo sát tại 45 hộ sản xuất ở huyện Cần Giờ và 3 huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú của tỉnh Bến Tre cho thấy hầu như 100% các hộ được khảo sát đều kích thích sinh sản nghêu bằng phương pháp sốc nhiệt bằng ánh sáng mặt trời. Tỷ lệ ấu trùng xuống đáy từ 39 – 42%; tỷ lệ sống của ấu trùng xuống đáy lên giống cấp 1 là 7,1 – 7,6%; tỷ lệ sống của nghêu giống cấp 1 lên nghêu giống cấp 2 dao động từ 72 – 77%.
Ấu trùng xuống đáy sau 8 ngày kích thích sinh sản
Mô hình sản xuất nghêu giống theo quy trình cải tiến đang được áp dụng thử nghiệm tại Cần Giờ, thuộc dự án khu sản xuất giống thủy sản tại Cần Giờ do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ thực hiện. Mô hình có thể khắc phục những khó khăn của các quy trình sản xuất hiện tại như cải thiện được tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu sau khi xuống đáy; thay đổi nguồn thức ăn phù hợp cho sự phát triển của nghêu giống; đảm bảo chất lượng nước đầu vào, hạn chế mầm bệnh và tác nhân khác trong nước ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của nghêu giống.
Nuôi cấy tảo làm thức ăn cho nghêu
Hiện nhóm tác giả đang tiếp tục hợp tác với Sàn Giao dịch công nghệ Techport.vn (thuộc Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ – Sở KH&CN TP.HCM) để sẵn sàng chuyển giao quy trình cho các đơn vị, tổ chức có nhu cầu.
Thông tin chuyên gia, hỗ trợ
1. KS. Lâm Hoàng Lai
Điện thoại: 0966 267 367. Email: lamhoanglai1707@gmail.com
2. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao
Địa chỉ: Ấp 1, Xã Phạm Văn Cội, Huyện Củ Chi, TP.HCM. Điện thoại: 028 38862726
3. Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ - Phòng Giao dịch Công nghệ
Địa chỉ: 79 Trương Định, P. Bến Thành, Q.1, TP. HCM
Điện thoại: (028) 3822 1635 - Fax: (028) 3829 1957
Email: giaodichcongnghe@cesti.gov.vn
Lam Vân (CESTI)