Quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá dĩa đỏ (Symphysodon sp.) bằng phương pháp ấp trứng nhân tạo và quy trình nuôi sinh khối Artemia làm thức ăn cho cá dĩa đã được hoàn thiện và chuyển giao cho cơ sở sản xuất kinh doanh cá cảnh. Mô hình ứng dụng thực tiễn giúp tăng hiệu quả sản xuất lên 20% và tăng thu nhập cho đơn vị sản xuất.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ
TP.HCM được coi là trung tâm của các hoạt động sản xuất và kinh doanh cá cảnh của cả nước. Trong đó, cá dĩa từ lâu đã được xem là một loài cá cảnh nước ngọt có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng, có giá trị xuất khẩu lớn.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP.HCM trong năm 2020, cá cảnh xuất khẩu đạt 16,41 triệu con (giảm 23,7% so cùng kỳ), kim ngạch xuất khẩu 17,26 triệu USD (tăng 25,7% so cùng kỳ). Thị trường xuất khẩu chủ yếu là châu Âu, chiếm 54,09%; châu Á, chiếm 29,18%; châu Mỹ, chiếm 14,34%. Các loại cá cảnh sản xuất và xuất khẩu chủ yếu là cá dĩa, chép Nhật, bảy màu, hòa lan, hồng kim, bạch kim, bình tích, trân châu, mô ly, xiêm, ông tiên, ba đuôi, koi, ngựa vằn, la hán, chép nam dương, tai tượng,...
Hiện nay, nhu cầu về sản lượng cá dĩa thương phẩm để cung cấp cho thị trường cá cảnh trong nước và xuất khẩu rất lớn. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất, một số cơ sở sản xuất cá dĩa gặp khó khăn trong sinh sản nhân tạo cá dĩa như: cá dĩa bố mẹ ăn trứng hoặc không nuôi con sau khi cá tiêu hết noãn hoàng hoặc thời gian tái thành thục của cá bố mẹ kéo dài vì phải nuôi con; nguồn thức ăn tươi sống phục vụ cho sản xuất cá dĩa phụ thuộc rất lớn vào nguồn khai thác từ tự nhiên dẫn đến người dân không chủ động được nguồn thức ăn cho cá, ảnh hưởng đến hiệu quả và quy mô sản xuất.
Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất giống cá dĩa (Symphysodon spp.) sẽ khắc phục được những hạn chế nêu trên, giúp người nuôi chủ động nguồn thức ăn tươi sống an toàn; cá có màu sắc đẹp, tự nhiên, khỏe mạnh, kiểu hình đẹp, đạt yêu cầu của thị trường cá cảnh; tăng tỷ lệ sinh sản của cá bố mẹ và tỷ lệ sống của cá dĩa con. Qua đó mang lại hiệu quả cao trong sản xuất cho người dân. Đồng thời góp phần phát triển nghề nuôi cá cảnh tại TP.HCM theo hướng nông nghiệp công nghệ cao.
Quy trình và phương pháp thực hiện
Quy trình nuôi sinh khối Artemia làm thức ăn cho cá dĩa đỏ
Thuyết minh quy trình:
Bước 1: Chuẩn bị bể nuôi
Bể sử dụng để nuôi sinh khối Artemia bao gồm: bể composite có thể tích 2 - 5m3, hình chữ nhật, có lỗ thoát nước ở đáy bể; các thùng xốp, thau nhựa, bể xi măng lót bạt (kích thước 2 x 3 x 0,5m).
Các bể nuôi được đặt ở nơi hạn chế ánh nắng và nước mưa. Bể nuôi và các dụng cụ được vệ sinh bằng cách ngâm với Chlorine với nồng độ 200ppm trong thời gian 1 ngày, sau đó rửa sạch lại bằng nước ngọt và phơi khô. Sau đó, tiến hành lắp đặt hệ thống khí cho bể nuôi với số lượng 4 dây khí/bể để đảm bảo cung cấp đủ lượng oxy (> 5mg/L) cho bể nuôi.
Bước 2: Chuẩn bị nước nuôi Artemia
Nước nuôi Artemia là nước đã xử lý được cấp vào bể nuôi với thể tích 50% bể nuôi. Độ mặn của nước được thiết lập bằng cách pha muối vào nước giếng cho đến khi đạt mức yêu cầu. Chất lượng nước phải đảm bảo các chỉ tiêu sau: độ mặn của nước 35‰; nhiệt độ nước 28 - 30°C; pH 7,0 - 7,5; DO trong nước từ 5,00 - 5,34ppm; Kim loại nặng < 0,01 mg/l; NH4+ – N < 0,1mg/l; NO2 – N < 0,01mg/l.
Bước 3: Ấp trứng
Trứng Artemia sử dụng là Artemia Vĩnh Châu cho ấu trùng khỏe và hiệu suất nở cao đạt 300.000 ấu trùng/g. Dựa vào công thức số gram trứng cần ấp (g) = (D x V)/300.000. Trong đó, D: mật độ nuôi (cá thể/L); V: thể tích nuôi (L) và 300.000: hiệu suất nở của trứng. Dụng cụ ấp là bình nước có thể tích 10 lít. Cung cấp ánh sáng bằng đèn neon liên tục trong suốt quá trình ấp trứng, đèn đặt cách xô ấp 20cm. Nhiệt độ ấp 28 – 30°C; độ mặn 35‰; sục khí mạnh và liên tục. Sau 24 giờ, quan sát thấy trứng đã nở thì tiến hành thả giống. Lúc này đa số ấu trùng ở giai đoạn Instar I (khả năng thích ứng cao với những biến đổi của môi trường), rất thuận lợi trong việc cấy thả.
Bước 4: Thả giống
Với thể tích bể nuôi là 3m3, trong xi măng lót bạt với mật độ nuôi là 1.500 Nauplius/lít thì cần 15 gram trứng và mật độ Artemia đạt được là 4,5 triệu cá thể/bể. Giống sau khi ấp nở được lọc bỏ vỏ rồi đem thả ở giai đoạn Instar I vào lúc trời mát. Trước khi thả giống thì lấy nước trong bể nuôi cho chảy từ từ vào xô đựng giống cho giống quen dần với nước trong bể nuôi. Sau đó, thả vào vị trí các dây khí nhằm tránh trường hợp giống bị vón cục khi thả vào bể nuôi.
Bước 5: Phương pháp làm thức ăn và cách cho ăn
Sử dụng thức ăn để nuôi Artemia là 50% thức ăn tôm kết hợp với 50% cám gạo đã lên men Saccharomyces cerevisiae với hàm lượng men 0,5ppm. Cân cám gạo và men theo đúng tỷ lệ (hàm lượng men 0,5ppm), hòa tan men với nước sau đó trộn đều với cám gạo, đem hỗn hợp đi ủ 24 giờ. Thức ăn được ủ khoảng 24 giờ có thể cho Artemia ăn bằng cách: đong 100ml nước có độ mặn 35‰ khuấy đều với cám ủ, sau đó đem lọc qua lưới 50μm, dùng ca nhựa có thể tích 1 lít để chứa thức ăn cho Artemia ăn. Thức ăn còn lại được trữ trong tủ lạnh.
Bước 6: Chế độ chăm sóc
Số lần cho ăn là 2 lần/ngày với thời gian cho ăn vào 8h và 14h. Sục khí nhẹ giúp cho ấu trùng dễ bắt mồi. Liều lượng cho ăn theo kiểu thỏa mãn bằng cách quan sát màu nước bể nuôi, biểu hiện bơi lội của Artemia và sự hiện diện thức ăn trong đường ruột (nếu thức ăn bị đứt quãng thì lượng thức ăn đưa vào không đủ và phải bổ sung thêm, ngược lại nếu nước có biểu hiện dơ, màu nước trắng đục lâu trong trở lại thì lượng thức ăn được điều chỉnh giảm). Tùy thuộc vào chất lượng nước của bể nuôi, tiến hành thay 30% nước mới khi quan sát thấy nước có độ đục trắng, thức ăn lắng xuống đáy bể hoặc phân Artemia thải ra môi trường nước khá nhiều. Bổ sung men EM gốc vào bể để kiểm soát chất lượng nước trong bể. Sử dụng dây sục khí và đĩa phối khí đưa xuống tận đáy bể để quá trình di chuyển của khí làm cho thức ăn không bị lắng tụ xuống đáy thì hiệu quả lọc của Artemia sẽ tốt hơn.
Bước 7: Chế độ thu hoạch sinh khối Artemia
Sinh khối Artemia khi thu hoạch
Sinh khối Artemia ở các bể nuôi được thu hoạch toàn bộ hoặc thu tỉa tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Artemia trưởng thành rất thích hợp làm thức ăn cho các loài cá cảnh có giá trị kinh tế cao hoặc cá cảnh bố mẹ đang trong giai đoạn thành thục và sinh sản như cá dĩa đỏ. Thông thường, trong bể nuôi Artemia sau 15 – 18 ngày sẽ có ấu trùng Artemia, do vậy phương pháp thu hoạch Artemia trong giai đoạn này có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Áp dụng phương pháp thu tỉa và thu những con Artemia tiền trưởng thành, phần còn lại Artemia sẽ tham gia sinh sản tạo ra ấu trùng và được tiếp tục nuôi cho những lần thu hoạch sau. Việc thu hoạch sinh khối Artemia phụ thuộc vào mục đích sử dụng của người sản xuất, dựa vào kích thước Artemia sẽ lựa chọn được thời điểm thu hoạch cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá dĩa.
Quy trình sản xuất giống cá dĩa đỏ Symphysodon sp.
Thuyết minh quy trình:
Bước 1: Chuẩn bị nguồn nước
Nước chuẩn bị cho nuôi và sản xuất giống cá dĩa cần đảm bảo các yếu tố: nước trong, nhiệt độ 28 – 30oC, pH dao động 6,5 – 7, oxy hòa tan > 4mg/L, độ cứng 2 - 5mg/L, NH3, NO2 < 0,01mg/l.
Phương pháp xử lý nước cho cá nuôi như sau:
Đối với nước máy: cấp nước vào bể chứa, bể chứa có thể để trong nhà hoặc ngoài trời đều được, sục khí nhẹ ít nhất 48 giờ để loại bỏ clo trong nước và tăng cường oxy hòa tan. Kiểm tra độ pH nước khi cấp vào bể nuôi, pH từ 6,5 – 7 là phù hợp. Thông thường nước máy có độ pH nước 6,8 – 7.
Đối với nước giếng ngầm: cần kiểm tra chất lượng của nguồn nước trước khi đưa vào sử dụng. Nước bơm từ giếng cho vào bể chứa tăng cường sục khí để cung cấp oxy và tăng pH nước. Thường nước giếng có độ pH nước < 5,5, do vậy cần sục khí mạnh để tăng pH nước lên 6,5 – 7 là phù hợp cho cá nuôi. Tùy từng giai đoạn nuôi cá mà điều chỉnh độ pH nước cho phù hợp.
Bước 2: Chuẩn bị bể nuôi cá
Bể nuôi cá sử dụng là bể kính được thiết kế với nhiều kích thước khác nhau tùy theo từng giai đoạn phát triển của cá. Tuy nhiên cần đảm bảo các điều kiện như: độ sâu của nước từ 30 – 40cm, bể đặt nới có ánh sáng thoáng rộng cho cá bơi lội, bể đặt trong nhà và được cung cấp khí oxy liên tục.
Bước 3: Chuẩn bị cá giống và cá hậu bị cho sinh sản
Cá giống: cá dĩa đỏ cắt mặt được mua với kích cỡ 8 - 10cm, thân hình tròn, đầy đặn, khỏe mạnh, kỳ vây nguyên vẹn, phản xạ nhanh nhẹn, màu sắc đặc trưng. Cá được đem về nuôi quen với môi trường nước trong bể nuôi của trại.
Dụng cụ nuôi: bể kính kích thước 1,2 x 0,5 x 0,5m. Nhiệt độ nước: 28 - 30oC, pH nước 6,8, độ cứng 2 - 5mg/l, oxy hòa tan 5mg/L. Mật độ: 50 con/bể.
Thức ăn: sinh khối Artemia, ngoài ra còn bổ sung tim bò xay nhuyễn trộn với một số thành phần quan trọng gồm men vi sinh probiotic (mật độ vi sinh 108cfu/g), thyroxine (0,05mg/kg), astaxanthin (2g/kg Carophyll Pink). Sử dụng thức ăn sinh khối Artemia để tăng khả năng hấp thụ thức ăn, giúp cá tăng trưởng nhanh, sức đề kháng tốt, tăng màu sắc và đồng thời thúc đẩy quá trình thành thục tham gia sinh sản. Sau 3 - 4 tháng cá dĩa đỏ đạt kích cỡ 12 - 14cm, lúc này cá bắt đầu thành thục, chuẩn bị cho quá trình sinh sản.
Cá dĩa sau khi cho ăn thức ăn bổ sung astaxanthin
Chăm sóc: hàng ngày theo dõi cá, cá thích nghi trong môi trường nhân tạo có biểu hiện như có màu sắc rực rỡ, bơi lội thoải mái, thường xuyên bắt mồi, không có cảm giác sợ hãi lẩn trốn. Cho cá ăn 3 lần/ngày vào lúc 8h sáng, 13h và 16h mỗi ngày điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp với kích cỡ của cá. Thay nước hàng ngày, lượng nước thay 25 - 90% tùy thuộc vào chất lượng nước, loại thức ăn, thời tiết,…
Bước 4: Cá sinh sản
Biểu hiện sinh sản của cá dĩa: cá dĩa thành thục có hiện tượng tự bắt cặp với nhau. Cá có màu sắc rất sặc sỡ, bắt cặp cùng nhau tách riêng ra khỏi đàn và rất hung dữ thường có phạn xạ để bảo vệ cặp cá. Trước khi đẻ một vài ngày cá có hiện tượng rùng mình liên tục, tăng cường cạp ổ. Lúc này gai sinh dục dài ra hơn, dễ phân biệt cá đực, cá cái.
Tách cặp cá bố mẹ ra riêng chuyển vào bể đẻ đã chuẩn bị nước. Bể đẻ có kích thước 0,5m x 0,5m x 0,5m có chứa giá thể cho cá đẻ trứng, giá thể thường sử dụng là gạch và được dán thành hình trụ hoặc hình tam giác.
Điều kiện chất lượng nước: nhiệt độ nước 28 - 30oC, pH nước 6,5, độ cứng 2mg/l, oxy hòa tan 3mg/L.
Bể nuôi vỗ cá dĩa bố mẹ và bể cho sinh sản cá dĩa
Nếu cặp cá thành thục tốt thì khoảng 2 - 3 ngày cá sẽ đẻ trứng. Thông thường cá dĩa đẻ trứng dọc theo giá thể, theo chiều từ dưới lên. Cá đực cũng theo lộ trình đó phóng tinh để thụ tinh cho trứng. Những cặp cá đẻ tốt, đẻ trứng tập trung thành cụm khoảng 2 x 4cm, số lượng trứng khoảng 50 - 300 trứng.
Bước 5: Ấp trứng
Giai đoạn này rất quan trọng, quyết định tỷ lệ sống đàn cá con sau này. Tiến hành quan sát các biệu hiện bên ngoài của trứng như sau:
Ngày thứ 1: trứng mới đẻ có màu vàng nhạt.
Ngày thứ 3 sau khi cá đẻ: trứng thụ tinh có màu đen, trứng không thụ tinh ngã màu trắng đục.
Ngày thứ 4 - 5: trứng màu đen đậm, ấu trùng đã nở, lúc này cá còn bám vào giá thể dinh dưỡng bằng túi noãn hoàng trong thời gian 3 ngày.
Ngày thứ 7 (tính từ lúc cá đẻ trứng): cá con tiêu hết noãn hoàng (cá 1 ngày tuổi), rời giá thể, bơi tự do. Giai đoạn này, cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài và kích cỡ miệng cá rất nhỏ nên chọn lựa thức ăn phù hợp với kích cỡ miệng cá là yếu tố quan trọng.
Ở bước này, tùy thuộc vào tình trạng của cặp cá dĩa bố mẹ mà chúng ta chọn phương pháp ấp trứng mang lại hiệu quả nhất.
Phương pháp 1: Cá dĩa bố mẹ ấp trứng tự nhiên
Trường hợp này là cặp cá bố mẹ chăm sóc và bảo vệ ổ trứng tốt, sử dụng phương pháp can thiệp sớm vào giai đoạn tách cá con ra khỏi cá bố mẹ khi cá bám được 3 - 5 ngày. Cá bố mẹ tiếp tục chăm sóc ổ trứng cho đến khi trứng nở và bám trên cơ thể cá bố mẹ trong thời gian 3 đến 5 ngày. Sau 5 ngày, tách bầy cá dĩa bột ra nuôi riêng. Thức ăn trong giai đoạn này là lòng đỏ trứng gà kết hợp với nhớt ốc sen và chất kết dính. Thức ăn được kết dính vào con cá giả sau đó cho vào bể cá con sau khi đã tách cá bố mẹ ra nuôi riêng. Kích thước bể nuôi 0,3 x 0,3 x 0,5m, nước trong bể có độ cao 20cm, sục khí nhẹ. Ngoài thức ăn trên thì bổ sung thêm ấu trùng Artemia, cho ăn 4 lần/ngày. Khi cá đạt 15 - 20 ngày tuổi thì thức ăn là Artemia và thức ăn viên chế biến. Sau 15 ngày tuổi, tỷ lệ sống của cá dĩa con đạt trung bình 85%, đồng đều kích cỡ.
Phương pháp 2: Ấp trứng nhân tạo
Phương pháp này được áp dụng để khắc phục trường hợp những cặp cá bố mẹ có tập tính ăn trứng và không chịu nuôi cá dĩa con mới nở.
Cách thực hiện: sau khi cá đẻ trứng khoảng 65 giờ (lúc này đã xác định được tỷ lệ thụ tinh), chuyển giá thể mang trứng sang hồ ấp. Lưu ý, hồ ấp có chất lượng nước giống với nước trong bể cá đang đẻ, hồ ấp chứa khoảng 20 - 30 lít nước, có bố trí dây sục khí nhẹ. Sau khi cá tiêu hết noãn hoàng, bố trí thức ăn vào bể nuôi.
Thức ăn sử dụng trong giai đoạn này là hỗn hợp nhớt ốc sên kết hợp với lòng đỏ trứng gà (tỷ lệ 3:1) và chất kết dính. Lượng thức ăn chế biến được phối trộn và gắn dính vào những viên đá sủi trong nước hoặc gắn vào hình con cá giả rổi để vào bể nuôi cá dĩa bột.
Sau 5 ngày, ngoài thức ăn chế biến thì có bổ sung ấu trùng Artemia vào bể nuôi. Sau 15 ngày tuổi, tỷ lệ sống của cá dao động từ 75 - 78%, có con bị phân đàn với nhiều kích cỡ khác nhau. Mặc dù tỷ lệ sống của cá sau 15 ngày tuổi thấp hơn phương pháp ấp trứng tự nhiên nhưng khi áp dụng phương pháp ấp trứng nhân tạo sẽ khắc phục được một số khó khăn trong quá trình sản xuất giống cá dĩa, đồng thời rút ngắn thời gian tái thành thục của cá dĩa bố mẹ từ đó mang lại hiệu quả cho sản xuất của người dân.
Bước 6: Chăm sóc cá dĩa bột lên cá thương phẩm
Giai đoạn cá mới nở đến 15 ngày tuổi:
+ Kích thước bể nuôi: 0,3 x 0,3 x 0,5m
+ Mực nước: 20cm thuận lợi cho cá bắt mồi, pH nước nuôi 6,5 – 6,8.
+ Sục khí: sục khí nhẹ, đảm bảo oxy hòa tan trong nước 3mg/l.
+ Thức ăn: chế biến (lòng đỏ trứng gà, nhớt ốc sên và chất kết dính), ấu trùng Artemia.
+ Thay nước: thay khoảng 25 - 50% lượng nước trong bể tùy thuộc vào chất lượng nước.
Cá con từ 15 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi:
Cá đạt kích cỡ 1 - 1,5cm đã quen với nguồn thức ăn từ bên ngoài. Lúc này chuyển cá ra bể mới đạt các yêu cầu:
+ Kích thước bể nuôi: 0,8 x 0,5 x0,5m.
+ Mực nước: 30cm thuận lợi cho cá bắt mồi, pH nước nuôi 6,5 - 6,8.
+ Sục khí: sục khí nhẹ, đảm bảo oxy hòa tan trong nước 3mg/l.
+ Thức ăn: 4 - 5 lần/ngày, Artemia.
+ Thay nước: thay khoảng 25 - 50% lượng nước trong bể tùy thuộc vào chất lượng nước.
Cá con từ 30 ngày tuổi đến 2 tháng tuổi:
+ Kích thước bể nuôi: 1,2 x 0,5 x 0,5m.
+ Các yếu tố chất lượng nước: 28 - 30oC, pH nước 6,8, độ cứng 2 - 5mg/l, oxy hòa tan 5mg/L.
+ Thức ăn: 4 lần/ngày. Sinh khối Artemia, thức ăn chế biến (tim bò + thyroxine 0,05 mg/kg + probiotic 108 cfu/g).
+ Chế độ thay nước: thay 1 - 2 lần/ngày. Lượng nước có thể thay từ 25 - 90% tùy chất lượng nguồn nước và thời tiết.
Cá con sau 2 tháng tuổi:
Cá dĩa con có kích thước 4 - 6cm
+ Thức ăn: 4 lần/ngày. Thức ăn chính sinh khối Artemia và thức ăn chế biến (tim bò + thyroxine 0,05mg/kg + probiotic 108cfu/g). Cá từ 4 - 6 tháng trong thức ăn chế biến cần phối trộn thêm astaxanthin (2g/kg Carophyll Pink) để tăng tỷ lệ màu sắc. Giai đoạn này cá được tuyển chọn bán thương phẩm, một số cá đạt chuẩn về kiểu hình giữ lại để làm cá hậu bị cho năm kế tiếp.
+ Chế độ thay nước: thay 1 - 2 lần/ngày. Lượng nước có thể thay từ 25 - 90% tùy chất lượng nguồn nước và thời tiết.
Ưu điểm của công nghệ, hiệu quả kinh tế
- Hai quy trình đã được triển khai ứng dụng với mô hình sản xuất giống cá dĩa đỏ tại Cơ sở sản xuất cá cảnh ông Nguyễn Văn Phương (ấp Tiền, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, TP.HCM).
+ Tổng diện tích mô hình là 800m2 trong đó khu nuôi và sản xuất giống cá dĩa là 300m2, khu nuôi sinh khối Artemia là 100m2, khu xử lý nước là 100m2, phần còn lại là khu vực phục vụ cho việc đóng cá và nhà kho chứa các vật tư thiết bị, thức ăn của trại.
+ Nhân lực triển khai mô hình: gồm 5 cán bộ khoa học kỹ thuật đúng chuyên môn, có kinh nghiệm trong nuôi cá dĩa và 2 lao động phổ thông. Đối tượng thả nuôi và sản xuất giống là: cá dĩa đỏ 8cm. Thời gian nuôi: từ tháng 6/2020 đến tháng 5/2021.
+ Năng suất: tổng số lượng cá trong thời gian triển khai là 20.004 con trong đó 3.852 con có kích thước 7 - 8cm và 16.152 con kích thước 5 - 6 cm. Chất lượng cá dĩa: cá dĩa có màu sắc đẹp, đạt yêu cầu của thị trường cá cảnh. Hiệu quả kinh tế: lợi nhuận đạt 756.910.000 đồng/năm.
- Như vậy, mô hình ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất giống cá dĩa (Symphysodon sp) có ưu điểm là tăng hiệu quả sản xuất lên 20% so với sản xuất theo phương pháp truyền thống trước đây. Cụ thể:
+ Sử dụng quy trình sản xuất giống cá dĩa đỏ bằng phương pháp ấp trứng nhân tạo sẽ tạo ra được số lượng cá dĩa con nhiều, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu cá dĩa, đảm bảo về số lượng và ổn định về chất lượng với đàn cá có kích cỡ đồng đều. Bên cạnh đó, khắc phục được tình trạng cá dĩa bố mẹ không nuôi con, cá dĩa bố mẹ ăn trứng, rút ngắn thời gian tái thành thục cá dĩa bố mẹ. Tại cơ sở ông Nguyễn Văn Phương, tỷ lệ thành thục của cá dĩa bố mẹ là 80%, tỷ lệ thụ tinh 90%, tỷ lệ nở 90%, thời gian tái thành thục 5 ngày, tỷ lệ sống của cá con 80%. Cá đẹp, màu sắc sặc sỡ đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu của thị trường cá cảnh.
+ Sử dụng quy trình nuôi sinh khối Artemia làm thức ăn cho cá dĩa sẽ chủ động được nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, khắc phục được việc khan hiếm trong sử dụng trùn chỉ làm thức ăn cho cá. Sinh khối Artemia thu hoạch trong năm tại cơ sở ông Nguyễn Văn Phương đã đáp ứng được 60 - 70% thức ăn tươi sống, luôn chủ động nguồn thức ăn trong quá trình sản xuất, không còn phụ thuộc vào thức ăn ngoài thị trường (trùn chỉ). Ngoài ra, thức ăn sinh khối Artemia không mang mầm bệnh nên sẽ tăng tỷ lệ sống của cá trong quá trình nuôi.
Có thể nhân rộng chuyển giao kết quả của mô hình này trên địa bàn TP.HCM để người dân tiếp cận được công nghệ nuôi và sản xuất giống cá dĩa, góp phần cung cấp con giống có chất lượng cao cho thị trường cả cảnh.
Hiện tại, Sàn Giao dịch Công nghệ Techport.vn (thuộc Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ – Sở KH&CN TP.HCM) đang tiếp tục đồng hành cùng nhóm tác giả trong hoạt động hỗ trợ kết nối, tư vấn chuyển giao quy trình này cho các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu.
Thông tin chuyên gia, hỗ trợ
1. ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
ĐT: 0983.499.015. Email: lienkimnguyen85@gmail.com.vn
2. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao
Địa chỉ: Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP.HCM. Điện thoại: 028 3886 2726.
3. Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ - Phòng Giao dịch Công nghệ
Địa chỉ: 79 Trương Định, P. Bến Thành, Q.1, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3822 1635 - Fax: (028) 3829 1957
Email: pgdcn@cesti.gov.vn.
Lam Vân