Được cấu tạo bởi thành phần chính là các enzyme và hỗn hợp vi sinh kỵ khí được phân lập và được cô đặc với nồng đô cao. Các enzyme và vi sinh kỵ khí này được lấy từ các nguồn khác nhau trong tự nhiên như công nghiệp thực phẩm, ngành chăn nuôi, chế biến cao su, xử lý rác và các chủng vi sinh vật kỵ khí từ đất.
CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA GZIM YẾM KHÍ Sau khi được lên men và tiếp xúc với nước thải, Gzim yếm khí sẽ nhanh chóng phát tán các enzym thúc đẩy nhanh các quá trình thủy phân, acid hóa và methane hóa. Các enzym này sẽ đồng thời tiêu diệt các chủng vi sinh vật phát sinh khí gây mùi hôi như NH3, H2S, mercaptan… giúp giảm tối đa mùi hôi trong quá trình xử lý đồng thời giúp sản phẩm sau cùng của quá trình xử lý kỵ khí là khí gas methanne có độ tinh khiết cao hơn giảm ăn mòn các thiết bị sử dụng gas do các khí mang tính acid gây ra. Khi các điều kiện thuận lợi của quá trình xử lý kỵ khí được đảm bảo bởi các enzyme, các chủng vi sinh vật kỵ khí trong sản phẩm sẽ kích hoạt các phản ứng phân hủy sinh học lên gấp từ 40 đến 100 lần so với các quá trình xử lý kỵ khí thông thường sinh ra sản phẩm cuối cùng là CO2, H2O và tế bào mới.
Với tốc độ phản ứng nhanh, các khí CO2 trong nước thải thoát ra liên tục từ đáy bể dưới dạng bọt khí sẽ góp phần xáo trộn bùn với nước thải hình thành quá trình kỵ khí tiếp xúc một cách tự nhiên mà không cần phải sử dụng các thiết bị khuấy trộn cơ khí như thông thường. Khí CO2 trong nước thải thoát ra liên tục khiến nồng độ oxi hòa tan DO trong nước thải giảm tạo môi trường kỵ khí hoàn toàn, hơn nữa các enzyme sau khi thủy phân các chất ô nhiễm sẽ nổi lên tạo một lớp màng trên bề mặt bể ngăn cản việc phát tán mùi từ trong ra ngoài và ngăn cản oxi trong không khí hòa tan từ ngoài vào trong bể. Vì vậy khi áp dụng Gzim yếm khí, các bể xử lý kỵ khí không cần xây dựng phần nắp đậy hoặc phủ bạt kín như công nghệ truyền thống trước đây giúp giảm 30% chi phí đầu tư xây dựng bể kỵ khí so với công nghệ truyền thống.