Công nghệ
Quy trình sản xuất bột nano selen ổn định trong beta-glucan tan trong nước có hoạt tính tăng cường miễn dịch bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60)
Nhà cung ứng: Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí Minh
Danh mục: Công nghệ sinh học
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy -glucan tách chiết từ nấm men có nhiều tác dụng ở người và động vật như tăng cường miễn dịch, kháng khối u, v.v. Tuy nhiên -glucan sau khi tách chiết từ nấm men có khối lượng phân tử (Mw) lớn và không tan trong nước nên bị hạn chế trong ứng dụng. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy -glucan tách chiết từ nấm men Saccharomyces cerevisiea có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan nước có hoạt tính tăng cường miễn dịch cao hơn sản phẩm -glucan tách chiết từ nấm men Saccharomyces cerevisiea chưa cắt mạch (khối lượng phân tử lớn và không tan trong nước). Mặc dù vậy, cho đến nay chỉ có nghiên cứu của N. Y. Sung và cộng sự (2009) và P. Methacanon và cộng sự (2011) nghiên cứu ứng dụng bức xạ cắt mạch -glucan tách chiết từ nấm men Saccharomyces cerevisiea để chế tạo chế tạo -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước. Tuy nhiên các tác giả này chưa sử dụng -glucan tách chiết từ tế bào nấm men bia Saccharomyces carlsbergensis trong bã men bia và đồng thời chưa nghiên cứu chiếu xạ cắt mạch -glucan trong điều kiện có kết hợp xử lý với H2O2.
Selen là nguyên tố thiết yếu và có vai trò quan trọng đối với cơ thể người và động vật với nhiều tác dụng như tăng cường khả năng kháng oxy hóa, kích thích tăng cường hoạt tình miễn dịch, chống ung thư, v.v. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy selen dạng nano có độc tính rất thấp và có hoạt tính sinh học ở người và động vật cao hơn so với selen ở dạng muối vô cơ hay hữu cơ. Đã có nhiều nghiên cứu chế tạo nano selen bằng nhiều phương pháp khác nhau và chủ yếu sử dụng các tác nhân vật lý (như nhiệt độ, vi sóng, áp suất, v.v.) (J. Y. Hou và cộng sự, 2011; B. Yu và cộng sự, 2016; M. Ahmad, 2016), các tác nhân là chất khử hóa học (như axít ascorbic (Vitamin C), 1-methylimidazole, glutathione, v.v.) (J. Zhang và cộng sự, 2004; B. Langi và cộng sự, 2010; P. Verma và S. K. Maheshwari, 2018) hay tác nhân khử sinh học (như dịch chiết thực vật, vi sinh vật, v.v.) (D. Cui và cộng sự, 2018; C. Ramamurthy và cộng sự, 2013; P. Sowndarya và cộng sự, 2016; P. B. Ezhuthupurakkal và cộng sự, 2017; W. Zhang và cộng sự, 2017; B. Hosnedlova và cộng sự, 2018; S. Dhanjal và S. Cameotra, 2010; P. J. Fesharaki và cộng sự, 2010; H. Zhang và cộng sự, 2019; M. H. Yazdi và cộng sự, 2012, Z. Raaahati và cộng sự, 2020). Tuy nhiên các nghiên cứu này hoàn toàn không sử dụng phương pháp chiếu xạ để tổng hợp nano selen đồng thời chưa sử dụng -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước làm chất ổn định trong quá trình chế tạo nano selen.
Nghiên cứu của của N. Q. Hien và cộng sự (2018) đã chế tạo nano selen bằng phương pháp chiếu xạ có nhiều ưu điểm nhưng nhóm tác giả này sử dụng dextran làm chất ổn định. Trong khi nghiên cứu của N. N. Duy và cộng sự (2021) đã chế tạo nano selen bằng phương pháp chiếu xạ sử dụng oligochitosan làm chất ổn định. Các tác giả này hoàn toàn chưa sử dụng -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước làm chất ổn định trong chế tạo nano selen.
Ngoài ra, việc bảo quản hệ dung dịch keo nano selen là rất ngắn và rất khó khăn do quá trình gia tăng kích thước hạt, sự sa lắng của các hạt nano selen dẫn đến làm giảm hoặc mất hoạt tính của sản phẩm theo thời gian bảo quản và đây là vấn đề rất khó khăn cho việc ứng dụng của sản phẩm này. Chính vì vậy, để tăng thời gian bảo quản và khả năng ứng dụng của nano selen, N Q Hien và công sự (2018) đã tạo chế phẩm nano selen trong dextran dạng bột bằng phương pháp sấy phun ở 60oC. N. N. Duy và cộng sự (2021) cũng đã tiến hành tạo chế phẩm nano selen trong oligochitosan bằng phương pháp sấy phun ở 60oC. Tuy nhiên các tác giả này chưa đề cập đến phương pháp tạo sản phẩm bột nano selen trong -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước bằng phương pháp đông khô ở -80oC.
Hoạt tính kháng oxy hóa và kháng tế bào ung thư của nano selen đã được nghiên cứu khá nhiều, tuy nhiên các nghiên cứu hoạt tính tăng cường miễn dịch của nano selen còn rất hạn chế. Một số nghiên cứu hoạt tính tăng cường miễn dịch của nano selen tổng hợp từ vi khuẩn đề cập bởi M. H. Yazdi và cộng sự (2012) trên chuột gây ung thư, và bởi Z. Raahati và cộng sự (2020) trên chuột được lây nhiễm với vi khuẩn Vibrio cholera, tuy nhiên tác giả này chưa đề cập đến khả năng tăng cường miễn dịch của chế phẩm nano selen ổn định trong -glucan tan trong nước có khối lượng phân tử (Mw) thấp chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ. Hơn nữa các tác giả này hoàn toàn chưa thử nghiệm hoạt tính tăng cường miễn dịch của chế phẩm nano selen trên chuột gây suy giảm miễn dịch bằng cytoxan.
Điều này làm hạn chế việc ứng dụng sản phẩm nano selen ổn định trong -glucan tan trong nước có khối lượng phân tử (Mw) thấp một cách rộng rãi cho mục kích thích tăng cường miễn dịch đối với các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đặc biệc là các bệnh nhân đang chữa trị ung thư bằng phương pháp hóa trị hay xạ trị.
Trong phạm vi của qui trình công nghệ này, việc cắt mạch -glucan không tan trong nước tách chiết được trong thành tế bào nấm men bia (Saccharomyces carlsbergensis) được tiến hành bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60) kết hợp xử lý H2O2 để tạo ra -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp (khoảng 20 – 30 kDa) và tan trong nước để làm chất ổn định trong quá trình tổng hợp nano selen cũng bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60). Qui trình công nghệ này còn sử dụng phương pháp đông khô để tạo sản phẩm bột nano selen trong -glucan tan nước có khối lượng phân tử (Mw) thấp giúp bảo quản lâu dài mà không bị thay đổi kích thước hạt cũng như hoạt tính kích thích tăng cường miễn dịch của sản phẩm.
Thông tin chủ sở hữu (Nhà cung ứng)
Tên đơn vị / Cá nhân chủ sở hữu
Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí Minh
Thông tin liên hệ
| Người đại diện: | TS. Nguyễn Hải An – Giám đốc |
| ĐT (NCC): | (028) 3715 3792 |
| Email (NCC): | ttcnsh.shtp@tphcm.gov.vn |
| Website (NCC): | www.hcmbiotech.com.vn |
Thông tin công nghệ
Tên công nghệ / Quy trình
Quy trình sản xuất bột nano selen ổn định trong beta-glucan tan trong nước có hoạt tính tăng cường miễn dịch bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60)
Xuất xứ
☑ Trong nước (Việt Nam)
☐ Nước ngoài
Tình trạng pháp lý & Sở hữu trí tuệ
☐
Bằng độc quyền Sáng chế số:
☐
Giấy chứng nhận Đăng ký Quyền tác giả số:
☐ Bí mật công nghệ
Mô tả chi tiết giải pháp
Bối cảnh & Vấn đề giải quyết
Nguyên lý vận hành & Sơ đồ quy trình
Thông số kỹ thuật chủ yếu
Quy trình này được thực hiện gồm các bước như sau:
1) Chế tạo -glucan tan trong nước có khối lượng phân tử (Mw) thấp (20 – 30 kDa) từ -glucan không tan trong nước tách chiết được trong thành tế bào nấm men bia (Saccharomyces carlsbergensis) bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60) liều 10 kGy kết hợp xử lý 1% H2O2;
2) Chuẩn bị dung dịch Se4+ 80 ppm trong 2% -glucan tan trong nước có khối lượng phân tử (Mw) khoảng 20 – 30 kDa.
3) Chế tạo dung dịch keo nano selen trong -glucan tan trong nước bằng phương pháp chiếu xạ: dung dịch ở bước ii được chiếu xạ nguồn xạ gamma Cobalt-60 với liều xạ 8 kGy để tổng hợp nano selen dạng dung kịch keo với hàm lượng selen dạng nano là 80 ppm;
4) Đông khô tạo sản phẩm bột nano selen ổn định trong -glucan tan với hàm lượng nano selen là 4.000 ppm và kích thước hạt nano selen khoảng 90 - 100 nm (phân tích bằng phương pháp tán xạ ánh sáng động (DLS) trên máy Zetasizer).
Ưu điểm
Quy trình sản xuất bột nano selen ổn định trong -glucan tan trong nước có hoạt tính tăng cường miễn dịch bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60) và sản phẩm tạo ra từ quy trình này có hoạt tính tăng cường miễn dịch trong máu ngoại vi, tủy xương và lách ở chuột gây suy giảm miễn dịch bằng cytoxan. Sản phẩm tạo ra từ quy trình có hiệu quả kích thích tăng cường miễn dịch cao đối với các yếu tố miễn dịch tế bào và các yếu tố miễn dịch dịch thể, có khả năng sản xuất quy mô lớn, có thể bảo quản được lâu dài một cách dễ dàng, dễ sử dụng và có triễn vọng ứng dụng trong sản xuất các sản phẩm tăng cường miễn dịch.
Đánh giá mức độ phát triển công nghệ (TRL)
Mức độ sẵn sàng công nghệ TRL
| Chọn | Cấp độ | Mô tả |
|---|---|---|
| ☐ | TRL 1 | Nghiên cứu cơ bản và các nguyên tắc cơ bản của công nghệ được quan sát. |
| ☐ | TRL 2 | Khái niệm công nghệ và/hoặc ứng dụng được hình thành. |
| ☐ | TRL 3 | Thử nghiệm khái niệm và đánh giá phân tích ban đầu. |
| ☑ | TRL 4 | Công nghệ được chứng minh trong phòng thí nghiệm. |
| ☐ | TRL 5 | Công nghệ được chứng minh trong môi trường mô phỏng. |
| ☐ | TRL 6 | Công nghệ được chứng minh trong môi trường thực tế. |
| ☐ | TRL 7 | Nguyên mẫu hệ thống được trình diễn trong môi trường hoạt động. |
| ☐ | TRL 8 | Hệ thống hoàn chỉnh và được thử nghiệm. |
| ☐ | TRL 9 | Ứng dụng thực tế – thị trường. |
Khả năng ứng dụng & Hiệu quả kinh tế
Lĩnh vực ứng dụng
☑ Công nghệ sinh học
Hiệu quả kinh tế – xã hội
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy -glucan tách chiết từ nấm men có nhiều tác dụng ở người và động vật như tăng cường miễn dịch, kháng khối u, v.v. Tuy nhiên -glucan sau khi tách chiết từ nấm men có khối lượng phân tử (Mw) lớn và không tan trong nước nên bị hạn chế trong ứng dụng. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy -glucan tách chiết từ nấm men Saccharomyces cerevisiea có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan nước có hoạt tính tăng cường miễn dịch cao hơn sản phẩm -glucan tách chiết từ nấm men Saccharomyces cerevisiea chưa cắt mạch (khối lượng phân tử lớn và không tan trong nước). Mặc dù vậy, cho đến nay chỉ có nghiên cứu của N. Y. Sung và cộng sự (2009) và P. Methacanon và cộng sự (2011) nghiên cứu ứng dụng bức xạ cắt mạch -glucan tách chiết từ nấm men Saccharomyces cerevisiea để chế tạo chế tạo -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước. Tuy nhiên các tác giả này chưa sử dụng -glucan tách chiết từ tế bào nấm men bia Saccharomyces carlsbergensis trong bã men bia và đồng thời chưa nghiên cứu chiếu xạ cắt mạch -glucan trong điều kiện có kết hợp xử lý với H2O2.
Selen là nguyên tố thiết yếu và có vai trò quan trọng đối với cơ thể người và động vật với nhiều tác dụng như tăng cường khả năng kháng oxy hóa, kích thích tăng cường hoạt tình miễn dịch, chống ung thư, v.v. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy selen dạng nano có độc tính rất thấp và có hoạt tính sinh học ở người và động vật cao hơn so với selen ở dạng muối vô cơ hay hữu cơ. Đã có nhiều nghiên cứu chế tạo nano selen bằng nhiều phương pháp khác nhau và chủ yếu sử dụng các tác nhân vật lý (như nhiệt độ, vi sóng, áp suất, v.v.) (J. Y. Hou và cộng sự, 2011; B. Yu và cộng sự, 2016; M. Ahmad, 2016), các tác nhân là chất khử hóa học (như axít ascorbic (Vitamin C), 1-methylimidazole, glutathione, v.v.) (J. Zhang và cộng sự, 2004; B. Langi và cộng sự, 2010; P. Verma và S. K. Maheshwari, 2018) hay tác nhân khử sinh học (như dịch chiết thực vật, vi sinh vật, v.v.) (D. Cui và cộng sự, 2018; C. Ramamurthy và cộng sự, 2013; P. Sowndarya và cộng sự, 2016; P. B. Ezhuthupurakkal và cộng sự, 2017; W. Zhang và cộng sự, 2017; B. Hosnedlova và cộng sự, 2018; S. Dhanjal và S. Cameotra, 2010; P. J. Fesharaki và cộng sự, 2010; H. Zhang và cộng sự, 2019; M. H. Yazdi và cộng sự, 2012, Z. Raaahati và cộng sự, 2020). Tuy nhiên các nghiên cứu này hoàn toàn không sử dụng phương pháp chiếu xạ để tổng hợp nano selen đồng thời chưa sử dụng -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước làm chất ổn định trong quá trình chế tạo nano selen.
Nghiên cứu của của N. Q. Hien và cộng sự (2018) đã chế tạo nano selen bằng phương pháp chiếu xạ có nhiều ưu điểm nhưng nhóm tác giả này sử dụng dextran làm chất ổn định. Trong khi nghiên cứu của N. N. Duy và cộng sự (2021) đã chế tạo nano selen bằng phương pháp chiếu xạ sử dụng oligochitosan làm chất ổn định. Các tác giả này hoàn toàn chưa sử dụng -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước làm chất ổn định trong chế tạo nano selen.
Ngoài ra, việc bảo quản hệ dung dịch keo nano selen là rất ngắn và rất khó khăn do quá trình gia tăng kích thước hạt, sự sa lắng của các hạt nano selen dẫn đến làm giảm hoặc mất hoạt tính của sản phẩm theo thời gian bảo quản và đây là vấn đề rất khó khăn cho việc ứng dụng của sản phẩm này. Chính vì vậy, để tăng thời gian bảo quản và khả năng ứng dụng của nano selen, N Q Hien và công sự (2018) đã tạo chế phẩm nano selen trong dextran dạng bột bằng phương pháp sấy phun ở 60oC. N. N. Duy và cộng sự (2021) cũng đã tiến hành tạo chế phẩm nano selen trong oligochitosan bằng phương pháp sấy phun ở 60oC. Tuy nhiên các tác giả này chưa đề cập đến phương pháp tạo sản phẩm bột nano selen trong -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp và tan trong nước bằng phương pháp đông khô ở -80oC.
Hoạt tính kháng oxy hóa và kháng tế bào ung thư của nano selen đã được nghiên cứu khá nhiều, tuy nhiên các nghiên cứu hoạt tính tăng cường miễn dịch của nano selen còn rất hạn chế. Một số nghiên cứu hoạt tính tăng cường miễn dịch của nano selen tổng hợp từ vi khuẩn đề cập bởi M. H. Yazdi và cộng sự (2012) trên chuột gây ung thư, và bởi Z. Raahati và cộng sự (2020) trên chuột được lây nhiễm với vi khuẩn Vibrio cholera, tuy nhiên tác giả này chưa đề cập đến khả năng tăng cường miễn dịch của chế phẩm nano selen ổn định trong -glucan tan trong nước có khối lượng phân tử (Mw) thấp chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ. Hơn nữa các tác giả này hoàn toàn chưa thử nghiệm hoạt tính tăng cường miễn dịch của chế phẩm nano selen trên chuột gây suy giảm miễn dịch bằng cytoxan.
Điều này làm hạn chế việc ứng dụng sản phẩm nano selen ổn định trong -glucan tan trong nước có khối lượng phân tử (Mw) thấp một cách rộng rãi cho mục kích thích tăng cường miễn dịch đối với các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đặc biệc là các bệnh nhân đang chữa trị ung thư bằng phương pháp hóa trị hay xạ trị.
Trong phạm vi của qui trình công nghệ này, việc cắt mạch -glucan không tan trong nước tách chiết được trong thành tế bào nấm men bia (Saccharomyces carlsbergensis) được tiến hành bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60) kết hợp xử lý H2O2 để tạo ra -glucan có khối lượng phân tử (Mw) thấp (khoảng 20 – 30 kDa) và tan trong nước để làm chất ổn định trong quá trình tổng hợp nano selen cũng bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Cobalt-60). Qui trình công nghệ này còn sử dụng phương pháp đông khô để tạo sản phẩm bột nano selen trong -glucan tan nước có khối lượng phân tử (Mw) thấp giúp bảo quản lâu dài mà không bị thay đổi kích thước hạt cũng như hoạt tính kích thích tăng cường miễn dịch của sản phẩm.
Phương thức chuyển giao & Dịch vụ hỗ trợ
Hình thức chuyển giao
☐ Chuyển giao quyền sử dụng (Li-xăng)
☐ Chuyển nhượng quyền sở hữu
☐ Góp vốn bằng công nghệ
☐ Chìa khóa trao tay
☐
Khác:
Chứng nhận & Tài liệu số
Chứng nhận chất lượng
☐ ISO / CE / HACCP
☐ Phiếu kiểm nghiệm Quatest
☐
Khác:
Chưa có thông tin chứng nhận.
Dữ liệu đa phương tiện
—
-
Quy trình lên men sản xuất một số chủng vi sinh vật ứng dụng vào quá trình nuôi trồng thuỷ sản
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 19348
-
Công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm nông nghiệp (than bùn, phân chuồng, vỏ cà phê...)
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 00237
-
Quy trình thủy phân trùn quế, nhộng ruồi lính đen, cá, tôm, phụ phẩm da - ruột cá, ếch... bằng công nghệ enzyme và vi sinh vật
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 19350
-
Công nghệ chưng cất tinh dầu phân đoạn các loại tinh dầu có độ tinh khiết lớn hơn 99%
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 20813
-
Công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp từ hèm rượu đế, nước thải sau chưng cất cồn thực phẩm, cồn công nghiệp
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 00241
-
Công nghệ nano và công nghệ lượng tử ứng dụng trong y sinh
Giá tham khảo : 1,000,000,000 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 19319
-
Công nghệ chưng cất phân đoạn tinh dầu thực vật có độ tinh khiết lớn hơn 99%
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 22282
-
Sáng chế Tháp sinh học (BIoTower(TM)) vạn vật kết nối (IoT)
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 20647
-
Công nghệ sản xuất bột Polyphenol, Chlorophyll từ cây bắp
Giá tham khảo : 0
★★★★★Mã sản phẩm: 00158
-
Công nghệ sản xuất N-Acetyl-D-Glucosamine từ nguồn phế liệu vỏ tôm bằng biện pháp sinh học
Giá tham khảo : 0
★★★★★Mã sản phẩm: 00159
-
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ Enzyme SẢN XUẤT Nanochitosan TỪ VỎ TÔM
Giá tham khảo : 0 VND
★★★★★Mã sản phẩm: 05244